Thái Nguyên một vùng quê  “nửa đồng, nửa núi” được biết đến là trung tâm chính trị, kinh tế của khu Việt Bắc nói riêng và vùng trung du miền núi Đông Bắc nói chung, đồng thời cũng là cửa ngõ giao lưu kinh tế xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ. Cụ thể, phía Bắc Thái Nguyên giáp với tỉnh Bắc Kạn, phía Tây giáp với các tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, phía Đông giáp với các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang và phía Nam tiếp giáp với thủ đô Hà Nội.

Nhờ có vị trí giao thông thuận lợi, hệ thống sông ngòi dày đặc, địa hình không quá phức tạp như các tỉnh trung du và miền núi khác trong khu vực.

Bên cạnh đó, khí hậu Thái Nguyên còn rất thuận lợi khi chia làm hai mùa rõ rệt: mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 10, mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, nhiệt độ trung bình năm rơi vào khoảng  25ºC do đó rất thích hợp cho sự sinh sôi và phát triển của cây chè (cây trà).

Trà Thái Nguyên là thức uống nổi tiếng khắp Việt Nam, được người thưởng trà ưa chuộng bởi vị, sắc và hương đặc trưng không nơi nào có được, đó là sắc xanh và vị chát dịu nhẹ quyện với vị ngọt hậu sâu nơi cuống lưỡi khiến ai đã từng thưởng thức đều không ngớt lời ngợi khen. Hương vị trà Thái Nguyên say đắm là vậy, nhưng có lẽ chưa nhiều người biết đến lịch sử và quá trình cây trà phát triển ở mảnh đất này.

Có lẽ nhiều người sẽ khá bất ngờ vì trà Thái Nguyên thực chất lại có nguồn gốc từ Phú Thọ chứ không phải ở chính mảnh đất này. Ngược dòng lịch sử về năm 1922, đây là thời điểm người dân Thái Nguyên được lệnh phủ xanh đất trống đồi trọc, cũng là lúc cây trà được đặt những nền móng đầu tiên ở nơi đây. Khi đó, ông Vũ Văn Hiệt tên thường gọi là ông Đội Năm, sinh năm 1883 tại xã Bạch Xam, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên đã mang cây trà từ Phú Thọ về trồng nơi đây, nhờ việc đưa và phát triển cây trà cho đất và người Tân Cương mà sau này mọi người đã tôn ông là ông tổ của làng trà Tân Cương.

Nhờ hợp thổ nhưỡng nên từ khi bén rễ với mảnh đất Thái Nguyên, cây trà đã phát triển tươi tốt vượt trội và có hương vị đặc biệt hơn cả, dần dần cây trà trở thành nguồn thu nhập chính và là món đặc sản không ai có thể quên khi nhắc đến Thái Nguyên.

Được thiên nhiên ưu đãi về khí hậu và thổ nhưỡng nên cây trà xanh từ khi xuất hiện và phát triển đã làm nên một Thái Nguyên được biết đến với tên gọi “Tứ đại danh trà” bao gồm các vùng chè Tức của huyện Phú Lương, vùng chè La Bằng của huyện Đại Từ, vùng Minh Lập của huyện Đồng Hỷ và cùng Tân Cương của thành phố Thái Nguyên. Nhưng hơn tất cả, vùng trà Tân cương được xem là nơi có hương vị thơm ngon đặc trưng hơn cả. 

Hiện trên địa bàn xã Tân Cương có gần 96% dân số trồng và chế biến trà trên diện tích 400ha, có tổng sản lượng bình quân hàng năm lên tới hàng nghìn tấn. Từ trồng chè và chế biến chè, người dân Tân Cương đều đã có cuộc sống ấm no và đời sống cao hơn trước, từng ngày phát triển đưa thương hiệu trà Tân Cương vươn tầm trên thị trường quốc tế.

Tân Cương có địa thế đồi núi, khí hậu nóng ẩm mưa mùa và chất đất phù sa cổ, nguồn nước tưới tiêu dồi dào từ dòng sông Công nên trà búp Tân Cương có màu xanh đen, xoăn chặt, cánh trà gọn nhỏ, trên bề mặt cánh chè có nhiều phấn trắng. Nước trà rất trong, xanh, vàng nhạt, sánh có vị chát ngọt, dễ dịu, hài hòa, có hậu, gần như không cảm nhận có vị đắng. Mùi chè thơm ngọt, dễ chịu, thưởng thức một chén trà xanh ấm nóng giữa mùa đông miền Bắc mới cảm nhận được chứa đựng trong đó là đủ đầy sự tần tảo nắng mưa, sự tài hoa tinh tế và tình yêu giản dị của con người với đất và cây chè.

Trà Tân Cương ngoài được xuất ra các tỉnh thành trong nước ta thì còn được xuất khẩu ra nước ngoài, đặc biệt là hai quốc gia Trung Quốc và Nhật Bản. Nhiều đoàn khách nước ngoài đến thăm và tìm hiểu trà Tân Cương, do đó mà nét đẹp về văn hóa trà Tân Cương cũng như hình ảnh người làm trà nơi đây ngày càng lan tỏa rộng rãi đến bạn bè trong nước và quốc tế. Đáp lại cái đẹp của trà và con người làm trà, nhiều món quà ý nghĩa đang được trưng bày tại Không gian văn hóa trà Tân Cương. 

Không gian văn hóa trà Tân Cương được xây dựng trên diện tích gần 27.000 m2 tại vùng đất chè nổi tiếng Tân Cương, được biết đến như là một công trình văn hóa với kiến trúc độc đáo trong một không gian mở, nơi gói ghém trong nó một phần dòng chảy văn hóa, lịch sử, truyền thống của người dân trên các vùng chè Việt Nam. Nơi đây cũng là không gian bảo tồn nét đẹp văn hóa của một thứ đặc sản trứ danh mà người ta hay gọi với cái tên “đệ nhất danh trà”.

Không gian văn hóa trà Tân Cương được xây dựng với nhiều hạng mục công trình khác nhau, mỗi hạng mục đều mang dấu ấn thời gian và nghệ thuật. 

Phía trước công trình là khu vực sân được quy hoạch bằng phẳng, rộng rãi, nơi tổ chức các hoạt động lễ hội, đón tiếp, quảng bá du lịch nhằm thu hút các đoàn du khách đến thăm quan, nghiên cứu và thưởng thức nét văn hóa và đặc sản trà Tân Cương. Nhà trưng bày là hạng mục chính của Không gian văn hóa Trà. Công trình được thiết kế với công năng hội tụ ba không gian kiến trúc chính: Không gian đón tiếp, không gian trưng bày hiện vật và không gian giới thiệu sản phẩm trà, văn hóa trà. Nhà trưng bày được nhiều người ví giống như một “bảo tàng thu nhỏ” nơi khắc hoạ trọn vẹn câu chuyện về nguồn cội của cây chè tại mảnh đất Thái Nguyên. 

Khu chính giữa là nơi trưng bày những sản phẩm trà nổi tiếng của Thái Nguyên và hình ảnh đồi chè tượng trưng cho bốn vùng chè ngon, nổi tiếng của Thái Nguyên, được mệnh danh là tứ đại danh trà bao gồm vùng chè Khe Cốc, chè Trại Cài, chè La Bằng và vùng chè Tân Cương. Trong đó, chè Tân Cương được mệnh danh là đệ nhất danh trà với hương thơm tự nhiên, vị thơm đượm và hơi chát nhẹ, màu nước vàng xanh, hậu ngọt còn lắng sâu trong vị giác của người thưởng thức. Với đặc trưng đó mà sản phẩm đã khẳng định được thương hiệu của mình trên thị trường suốt nhiều năm nay.

Hiện nay, tại đây đang lưu giữ, trưng bày nhiều tài liệu và hiện vật nhằm giới thiệu lịch sử, sự phát triển của chè và nét độc đáo của văn hóa trà. Trong số đó có nhiều tài liệu, hiện vật quý như: các tài liệu và hiện vật về trồng, chăm sóc, chế biến chè; các hiện vật dùng để thưởng trà như ấm trà cổ…

Thông qua những tài liệu, hiện vật và nội dung trưng bày, du khách sẽ hiểu được điều kiện tự nhiên cho cây chè phát triển, thấy được những giá trị lịch sử, văn hóa trà độc đáo đang lưu giữ tại nơi đây, đồng thời cảm nhận được sự vất vả, chịu thương chịu khó của người dân vùng chè. Không chỉ được tìm hiểu về lịch sử nghề làm chè, khi đến với không gian văn hóa trà, du khách còn được thưởng thức các loại trà ngon nổi tiếng của địa phương, tham quan các đồi chè, chiêm ngưỡng những luống chè xanh ngát đều tăm tắp uốn lượn đầy thơ mộng.

 

XEM TIẾP CHƯƠNG 3 (CUỐI) »»