Di sản kiến trúc bắc triều tiên trong mối quan hệ địa – văn hóa vùng Đông Á

Bắc Triều Tiên, hiện nay còn lưu giữ được nhiều di sản kiến trúc gỗ đặc sắc có niên đại trên dưới 1000 năm. Trong nội dung dưới đây, tôi xin giới thiệu đến quí độc giả những giá trị của các công trình di sản kiến trúc này trong mối quan hệ Địa – Văn hóa vùng Đông Á.

Giá trị lịch sử và niên đại

Văn Miếu Sungkyungkwan (992 SCN) ở cố đô Khai Thành và Chùa Bohyeon (1042 SCN) ở tỉnh Bình An Bắc (Bắc Triều Tiên) là những công trình kiến trúc lịch sử thuộc thời kỳ Koryo của đất nước Triều Tiên. Sự hiện diện của những công trình kiến trúc này là minh chứng sống động cho hiện tượng “Hóa thạch vùng biên” rất đặc biệt đã từng xảy ra trong lịch sử châu Á.

Sự nở rộ của văn minh Trung Hoa từ thời nhà Đường (618-907 SCN) đến nhà Tống (960-1279 SCN) đã để lại cho nhân loại những thành tựu rực rỡ trên mọi phương diện, trong đó phải nói đến sự phát triển vượt bậc của kỹ thuật kiến trúc mà ảnh hưởng của nó đã vượt ra khỏi biên giới Trung Hoa để đến với các nước lân bang như Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam.

Hình 1. Kinh đô Trường An (nhà Đường) – tâm văn minh và vùng ảnh hưởng của nó

Những công trình kiến trúc này là sản phẩm của sự ảnh hưởng trực tiếp văn minh Trung Hoa cổ đại, tâm điểm là kinh đô Trường An (nhà Đường), kinh đô Biện Kinh (Bắc Tống) và kinh đô Lâm An (Nam Tống). Văn minh Trung Hoa cổ đại phát tán ảnh hưởng đến các quốc gia như Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam và được lưu giữ ở đó cho đến tận ngày nay, trong khi ở tâm điểm văn minh lại không còn lưu giữ được những giá trị này (hình 1).

Kiến trúc Bắc Tống đặc trưng là kỹ thuật Đấu Củng, kiến trúc Nam Tống đặc trưng là kỹ thuật Đại Lương – Cả hai loại này đều hiện diện ở di sản kiến trúc của các quốc gia vùng Đông Á có nhận ảnh hưởng văn minh Trung Hoa thế kỷ 7 đến thế kỷ 13 SCN (hình 2,3,4).

Hình 2. Tòa Đại Đình trước Điện Daewoong – Chùa Bohyeon 
Hình 3. Nội thất Điện Daewoong (nguồn: Thái Lộc)
 Hình 4. “Đấu Củng” và Rui 2 lớp hình rẻ quạt 

Sự tồn tại của những công trình di sản kiến trúc gỗ có niên đại từ thế kỷ 8 đến thế kỷ 11 vô cùng hiếm hoi. Gỗ là vật liệu hữu cơ dễ bị hủy hoại trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt, thiên tai, chiến tranh và hỏa hoạn, đặc biệt là ở các nước có động đất như Trung Quốc, Nhật Bản và Triều Tiên. Việc duy trì được những công trình di sản kiến trúc bằng gỗ này là nỗ lực phi thường trong việc bảo tồn di sản kiến trúc của những quốc gia sở hữu nó.

Nếu so sánh với các di tích đền tháp thời tiền Angkor thế kỷ 11 như Watphou của vương quốc Phounan (Champasak – Laos), các ngôi Tự viện Phật giáo Bagan (hình 5) thế kỷ 11 – 13 (Mandalay – Myanmar), các đền tháp như Angkor Wat (hình 6) thế kỷ 12 – 13 của vương quốc Khmer (Siemreap – Cambodia) chủ yếu bằng gạch đá thì sự tồn tại của những công trình kiến trúc gỗ có niên đại chẳng thua kém gì, thậm chí còn cổ xưa hơn. Đây là bằng chứng cho trình độ công nghệ kiến trúc gỗ thời đó.

Hình 5. Khu di sản kiến trúc Tự viện Phật giáo Bagan (thế kỷ 11-13) ở Mandalay – Myanmar

 

Hình 6. Khu di sản kiến trúc Đền tháp Angkor Wat (thế kỷ 12-13) ở Siemreap – Cambodia

Giá trị kỹ thuật – công nghệ kiến trúc

Có thể thấy rất rõ sự kết hợp giữa 2 loại kỹ thuật Bắc Tống và Nam Tống ở những công trình di sản kiến trúc Bắc Triều Tiên như Văn Miếu Sungkyungkwan và Chùa Bohyeon. Cùng phong cách với các kiến trúc này, niên đại có thể hơi sớm hơn 1 chút, là kinh đô Nara, hay còn gọi là Bình Thành Cung (710-794) của Nhật Bản, còn bảo tồn được rất nhiều công trình kiến trúc di sản nổi tiếng như Houryuji, Toudaiji, Toshoudaiji (hình 7, 8, 9).

Hình 7. Bình Thành Cung (710-794) của Nhật Bản

Thành Đại La (thời An Nam Đô Hộ Phủ do tướng Cao Biền làm Kinh Lược Sứ, thế kỷ 8-9) và sau này là Hoàng Thành Thăng Long (Lý – Trần, thế kỷ 11-14), tuy không còn lưu giữ được những chứng tích vật chất về kỹ thuật Bắc Tống và Nam Tống, nhưng ở những ngôi chùa và đình cổ ở Hà Tây như chùa Bối Khê, Đình Tây Đằng… vẫn còn lưu dấu sự ảnh hưởng trực tiếp kỹ thuật kiến trúc này (hình 10, 11, 12).

Hình 10. Cung thất của Chùa Bối Khê – Hà Tây, miền Bắc Việt Nam (năm 1338)
Hình 11. Hình thức “Đấu Củng” ở Chùa Bối Khê
Hình 12. Dấu tích “Đấu Củng” ở Đình Tây Đằng

Cấu trúc Đấu Củng gồm bộ phận “Đấu” có chức năng kê đỡ và “Củng” có chức năng gồng gánh. Chúng được đặt chồng lên nhau theo từng cụm, vừa là những đơn vị thiết kế cơ sở (module), vừa có cấu trúc đòn bẩy vươn xa, giảm ứng suất lực lên các cấu kiện chịu tải và triệt tiêu lực xung kích khi có gió bão hoặc sự rung lắc đột ngột do động đất, nó như các khớp nối trong bộ xương con người. Chính nhờ vào cấu trúc đặc biệt này mà các công trình kiến trúc gỗ này vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay trên những quốc gia có động đất.

Đây là yếu tố bền vững (Sustainable) cơ bản nhất trong kỹ thuật kiến trúc truyền thống, trải qua thời gian vẫn chưa hề lạc hậu. Đất nước Nhật Bản với thảm họa động đất liên miên, nhưng những công trình di sản kiến trúc bằng gỗ cao ngất trời vẫn đứng sừng sững. Và ngày nay, học tập những “bí quyết” kỹ thuật đó, người Nhật lại tiếp tục xây dựng những tòa cao ốc khác bằng những loại vật liệu mới. Động đất là người thầy vĩ đại đã dạy cho họ những bài học kinh nghiệm và giá trị của công nghệ kiến trúc truyền thống.

Một nét đặc trưng rất khác biệt ở di sản kiến trúc của Bắc Triều Tiên là công trình có đến 2 lớp rui. Lớp dưới là rui tròn (yếu tố thẩm mỹ kiến trúc, lưu dấu của kỹ thuật xây dựng cổ đại), lớp trên là rui vuông (cơ sở tính toán module trong thiết kế kiến trúc). Chính hình thức 2 lớp rui này là sự dự phòng cho khả năng chịu đựng của mái ngói. Rui được xếp theo hình rẻ quạt, điểm hội tụ được tính từ nóc nhà (đây là một loại kỹ thuật xây dựng rất khó, cần có trình độ toán học và hình học không gian cao). Hình thức này hoàn toàn giống với các công trình kiến trúc ở Nara – Nhật Bản và công trình Điện Cần Chánh ở Gyeongbokgung (Cung Cảnh Phúc) – Nam Triều Tiên (hình 13), đây là loại kỹ thuật dành cho kiến trúc cung điện hoặc những công trình tôn giáo tín ngưỡng cấp quốc gia.

Hình 13. Điện Cần Chánh ở Cung Cảnh Phúc – Nam Triều Tiên (1394)

Rui xếp theo hình rẻ quạt là một nghịch lý hiếm có trong kỹ thuật kiến trúc. Theo logic thông thường, kỹ thuật theo lối mòn từ đơn giản đến phức tạp rồi lại được giản lược, kỹ nghệ đi từ thô mộc đến tinh xảo rồi lại được tinh giản hóa. Hình thức rui xếp hình rẻ quạt là kỹ thuật rất khó và phiền phức lẽ ra phải lược bỏ nhưng vẫn được “sủng ái” và chỉ sử dụng cho những công trình kiến trúc quan trọng. Có lẽ, vì nó chính là “Kỷ vật” gợi nhớ ký ức thuở hồng hoang, khi xã hội cộng sản nguyên thủy vừa được phân bào thành những cá thể gia đình đơn sơ – Hình thức Túp lều hình tròn với một chùm cọng cây khoanh thành hình nón đã bảo vệ, che chở con người vượt qua được cái nắng rát ban ngày và lạnh buốt về đêm, khi mà ngọn lửa cộng đồng đã được nhen nhóm trong từng góc bếp, và từ đó con người mới biết đến hạnh phúc gia đình.

Định nghĩa “Con người là sinh vật kinh tế hoàn hảo” không phải là tuyệt đối, con người còn có một nhu cầu cao cả hơn là Ân điển và Báo hiếu. Tâm thức ấy vẫn sống âm ỷ qua hàng ngàn năm và còn trỗi dậy mạnh mẽ ở những thập niên đầu thế kỷ 21 trên mọi châu lục, đấy chính là Tôn giáo – Tín ngưỡng.

Tuy không tìm thấy dấu tích của loại hình rui hình rẻ quạt này ở bất cứ đâu từ cung điện cho đến đình chùa Việt Nam còn lại cho đến ngày nay, nhưng có thể tìm thấy ở rất nhiều ví dụ biến thể của nó: Phần chái bếp ngôi nhà tranh của cụ Nguyễn Sinh Sắc (thân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh) được phục dựng lại ở Nghệ An, rui tre được xếp theo hình rẻ quạt, một ngôi nhà tranh cũ nát của người Chăm ở Ninh Thuận, và có thể không xa lắm với ví dụ trong tấm ảnh trên đây về túp lều rơm của người dân vùng núi Soa’e thuộc Đông Timor (hình 15). Như vậy, ở Việt Nam có thể cũng đã có loại kỹ thuật này, tuy nhiên những kiến trúc cùng thời như cung điện thời Lý – Trần không còn nữa. Nhưng chí ít, dấu tích kỹ thuật của dòng kiến trúc vương giả chỉ cho ta thấy mập mờ ký ức một thời vang bóng đã được tìm thấy ở Hoàng Thành Thăng Long – Di sản văn hóa Thế giới.

Đặc trưng ảnh hưởng văn minh Trung Hoa của di sản kiến trúc Bắc Triều Tiên và các nước đồng văn châu Á

Theo nghiên cứu của GS.TS. Nakagawa Takeshi (Giám đốc Viện nghiên cứu di sản Thế giới UNESCO, Đại học Waseda, Tokyo-Nhật Bản) khi nghiên cứu về hiện tượng hóa thạch vùng biên và sự ảnh hưởng văn minh Trung Hoa cổ đại trong kiến trúc châu Á, có thể chia thành 2 vòng ảnh hưởng tính từ tâm điểm văn minh là kinh đô Trường An (hình 1): Vòng thứ nhất, gần tâm văn minh, có thể kể đến Bắc Triều Tiên, Nam Triều Tiên, miền Bắc Việt Nam và Nara hay còn gọi là vùng Kinki phía Đông – Nam Nhật Bản. Vòng thứ nhất nhận ảnh hưởng trực tiếp, gần với niên đại phát xuất văn minh, có tính chất bảo thủ tư tưởng và cố hữu kỹ thuật, nên tuy ở những quốc gia khác nhau, khoảng cách địa lý khá lớn nhưng hình thức và kỹ thuật kiến trúc rất giống nhau; Vòng thứ hai, xa tâm văn minh hơn có thể kể đến kinh đô Huế ở miền Trung Việt Nam, thần cung Bình An (Heian Jingu) ở cố đô Kyoto (hình 14) và thành Thủ Lý (Shurijou) ở Okinawa – Nhật Bản (hình 15). Vòng thứ hai nhận ảnh hưởng gián tiếp, niên đại muộn hơn, có tính chất tiếp thu tư tưởng và thích ứng kỹ thuật. Đặc trưng của vòng thứ hai này tốt hơn cho sự phát triển, tuy tinh hoa tư tưởng và kỹ thuật của gốc văn minh đã bị “loãng” đi rất nhiều.

Hình 14. Kiểu kiến trúc rất đặc biệt ở Heian Jingu – Kyoto, Nhật Bản (thế kỷ 12)
Hình 15. Công trình Chính Điện ở Thủ Lý Thành – Okinawa, Nhật Bản (TK 14)

Nhận định trên đây của GS. Nakagawa Taskeshi (Đại học Waseda, Nhật Bản) rất đúng đối với trường hợp kinh đô Huế (thế kỷ 19) ở Việt Nam. Sự hiện diện của yếu tố Trung Hoa cổ đại còn lại là những khái niệm đô thị phong thủy vĩ mô, lối qui hoạch kinh đô đối xứng trục và lưới trượng, hình thức 3 vòng Kinh Thành – Hoàng Thành – Tử Cấm Thành đồng tâm lồng vào nhau, tên gọi và vị trí của các công trình kiến trúc chính như Ngọ Môn, Điện Thái Hòa, Thái Miếu, Thế Miếu… Tuy nhiên, về mặt kỹ thuật kiến trúc thì đã hoàn toàn khác (hình 16). Lưu dấu của cấu trúc “Đấu Củng” chỉ là hình thức mà thuật ngữ kiến trúc cung điện triều Nguyễn ở Huế gọi là “Thừa Vinh”.

Lưu truyền vô thức đảm bảo cho tiến hóa, lưu truyền hữu thức đảm bảo cho phát triển” (GS.TS.KTS. Hoàng Đạo Kính). Hình thức lưu truyền hữu thức ấy trong kiến trúc được mệnh danh là Bảo tồn di sản kiến trúc.

Có thể nhận định rằng: Di sản kiến trúc Huế là sự cộng hợp của yếu tố kỹ thuật bản địa gốc Đông Nam Á, phương thức tư duy không gian của người Việt và những yếu tố tư tưởng nhận ảnh hưởng từ văn minh Trung Hoa cổ đại.

Những suy tư về công tác bảo tồn di sản kiến trúc Việt Nam

Nếu Văn minh (Civilization) là những sáng tạo, phát minh của loài người nhằm cải thiện điều kiện sinh tồn của mình, thì Văn hiến (Literature) là kinh nghiệm sử dụng văn minh thông qua lịch sử, Văn hóa (Culture) là phương cách sử dụng văn minh của mỗi cộng đồng dân tộc. Văn minh Trung Hoa cổ đại đã từng là động lực cho sự phát triển của các quốc gia Đông Á, tuy nhiên cái “lõi” văn minh đó đã không còn được tìm thấy ở chính nơi phát xuất ra nó. Đây là sự dự báo hiện tượng “rỗng ruột văn minh” trong khung thời gian thiên niên kỷ. May thay, văn hiến và văn hóa của các quốc gia châu Á vẫn còn hiện diện trên những công trình kiến trúc di sản, đang được bảo tồn vì lợi ích chung của nhân loại, và sẽ là cầu nối văn minh cho những giai đoạn kế tiếp của lịch sử.

Bảo tồn không chỉ là giữ cho vật còn đó mà còn gìn giữ toàn vẹn những khái niệm và sự hiểu biết về nó. Bảo tồn di sản kiến trúc là hoạt động lưu truyền hữu thức nhằm lưu dấu gốc văn minh, đảm bảo cho sự phát triển trong tư duy sáng tạo và hoạt động xây dựng kiến trúc hiện tại cũng như tương lai. Lưu giữ cái gốc văn minh không được làm méo mó yếu tố nguyên bản của nó. Nhiệm vụ trọng yếu của công tác bảo tồn là gìn giữ và duy trì tối đa yếu tố Nguyên gốc (Origin) và tính Chân xác (Authenticity). Qua sự hiện diện nguyên vẹn của di sản kiến trúc ở Bắc Triều Tiên, Nam Triều Tiên và Nhật Bản có thể nhận thấy rằng các quốc gia này đã bảo tồn rất tốt di sản kiến trúc của mình, trong khi Việt Nam ta lại chưa làm được như vậy.

“Nguyên gốc” phải được hiểu một cách trong sáng là “vật kiến trúc thật” chứ không phải là đồ nhái, hàng giả; “Tính chân xác” phải được hiểu là “giá trị xác thực về vật liệu và công nghệ xây dựng kiến trúc truyền thống” chứ không phải là sản phẩm của máy in 3D hay chiếc điện thoại bằng vàng ròng trong tác phẩm “Ông già Khốt-Ta-Bít” của Lazar Lagin.

Hình 16. Điện Thái Hòa – Hoàng Thành Huế (1804)

Thay cho lời kết

Khi thăm khu di sản kiến trúc văn miếu Sungkyungkwan và chùa Bohyeon ở Bắc Triều Tiên với bạt ngàn cây xanh, những công trình kiến trúc 1000 năm tuổi được bảo tồn tốt như những “ông già khỏe mạnh” sừng sững oai phong, cảnh quan khu di sản toát lên một cảm giác miên man lịch sử gợi nhớ về một thời đã qua, giúp ta liên tưởng tới cái gốc văn minh gợi nhớ về những nỗi thống khổ hay bến bờ hạnh phúc mà con người đã được trải nghiệm, là động lực thúc đẩy loài người tiếp tục vươn lên… Đó mới chính là thành tựu bảo tồn đích thực.

Di sản Kiến trúc là yếu tố hữu hình của không gian và thời gian lịch sử, vẫn còn ý nghĩa và giá trị đối với hiện tại cũng như tương lai. Cái “Thật” và cái “Giả” tuy na ná giống nhau nhưng giữa chúng có một rãnh sâu cách biệt; cái “Giả” là cái không “Thật”. Của hồi môn từ quá khứ không phải cái gì cũng nhận lấy, tuy nhiên di sản kiến trúc được truyền lại thông qua lịch sử là “Bảng cửu chương không số” mà bất cứ dân tộc nào cũng cần đến.

TS.KTS Lê Vĩnh An

Trưởng khoa Kiến trúc, Đại học Duy Tân – Đà Nẵng

(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 01-2018)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *